An toàn các công trình trường học, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ TRƯỜNG HỌC

Một trong những tâm điểm thời sự trong tháng 8 năm 2017 là những trận lũ quét khủng khiếp tại các tỉnh miền núi phía Bắc, gây thiệt hại lớn về người và tài sản của dân cư. Hàng nghìn hộ dân các tỉnh miền núi phía Bắc như Điện Biên, Lào Cai, Lai Châu,...thuộc diện phải di dời khẩn cấp. Trận mưa lớn kéo dài sáng sớm ngày 3 tháng 8 đã gây ra lũ quét kinh hoàng tại thị trấn Mù Cang Chải, huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) và huyện Mường La (Sơn La) với những thiệt hại vô cùng nặng nề về người và tài sản: 30 người thiệt mạng và mất tích, 25 người bị thương và 233 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; tổng thiệt hại ước tính lên tới 1.247 tỷ đồng. Trước khi đề cập đến vấn đề an toàn các công trình trường học trước các hiểm họa thiên tai, sẽ là thỏa đáng khi dành sự quan tâm cần thiết về lũ quét, một hiện tượng tự nhiên với tác động gây hại đặc biệt lớn về người và tài sản cũng như mùa màng, vật nuôi.

Lũ quét là gì?

Hiện tượng tư nhiên này chỉ thực sự được tập trung nghiên cứu ở nước ta từ đầu những năm 90. Lũ quét là một loại thiên tai đặc biệt nguy hiểm, tác hại nghiêm trọng, thường xảy ra bất ngờ trong phạm vi hẹp ở lưu vực các sông suối nhỏ miền núi, trung du có độ dốc lớn, mặt lưu vực bị phong hoá mạnh, kết cấu không vững chắc. Lũ quét thường xảy ra trong các tháng mùa lũ trong thời gian ngắn (vài giờ) với dòng chảy xiết có hàm lượng chất rắn cao và sức tàn phá lớn. Ở nước ta, lũ quét kèm theo sạt lở đất thường xảy ra ở các tỉnh miền núi phía Bắc ( Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái,..), vùng núi các tỉnh miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh,...) và các tỉnh Tây nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk,...). Lũ quét có các loại chính như dưới đây (hiện vẫn còn ý kiến khác biệt với phân loại này):

              - Lũ quét sườn dốc: là loại lũ quét nguy hiểm, phát sinh chủ yếu do mưa lớn đột ngột xuất hiện trên các lưu vực có sườn dốc cao, độ dốc lớn, nước lũ tập trung nhanh. Lũ thường  xảy ra vào ban đêm, sáng sớm, trong thời gian ngắn sau mưa khoảng 30 đến 60 phút, có tốc độ lớn (vận tốc dòng lũ đạt tới 5-7m/s), quét phăng mọi thứ trên đường đi;

              - Lũ quét nghẽn dòng tự nhiên: hình thành trong các trận mưa lớn kéo dài ở các trũng giữa núi, các thung lũng rộng mà cửa thoát bị thu hẹp do đặc thù địa chất, địa mạo, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trên một khu vực nếu phần thu hẹp của không được mở rộng. Dạng tàn phá chủ yếu của lũ quét nghẽn dòng tự nhiên là cuốn trôi và ngập với diện tác hại rộng, thời gian kéo dài;

              - Lũ quét nghẽn dòng đột biến: là lũ quét hình thành do dòng chảy bị thu hẹp đột xuất, thường là do đất đá trượt lở, chèn lấp một phần dòng chảy. Lũ quét nghẽn dòng đột biến trên các sông suối thường xảy ra tại các đoạn sông suối bị trượt lở lớn;

              - Lũ quét vỡ dòng tự nhiên: là lũ quét thường xảy ra trên các sông suối mà ở đó xảy ra trượt lở đủ lớn để chặn dòng lũ. Các khối đất đá trượt lở chặn dòng chảy thường có thể tích hàng nghìn m3 nhưng không vững chắc và khi lượng nước bị chặn lại dâng cao tới mức độ nào đó thì bị xói, tràn và vỡ khiến cho sóng lũ đổ về hạ lưu với tốc độ đặc biệt cao, tàn phá dải hạ lưu;

              - Lũ quét vỡ dòng nhân tạo: là lũ quét có đặc trưng gần giống với lũ quét vỡ dòng tự nhiên nhưng là do mưa lớn kết hợp với sự cố về hồ đập;

              - Lũ bùn đá: là loại lũ quét hình thành chủ yếu trên sườn các đồi, núi cao, độ dốc lớn, cấu trúc địa chất không ổn định. Với độ dốc lòng suối lớn, dòng lũ đậm đặc bùn đá chảy với động năng rất lớn. Lượng bùn đá trong dòng lũ chủ yếu do sạt lở núi và một phần từ vật liệu có sẵn trong lòng suối. Đây là loại lũ quét đặc biệt nguy hiểm, có sức tàn phá rất lớn và thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản;

              - Lũ quét hỗn hợp: là lũ quét được hình thành đồng thời bởi ít nhất từ hai trong số các loại nêu trên. Đây là dạng lũ thường xảy ra nhiều ở vùng núi nước ta và chúng có sức tàn phá mạnh, trong một khu vực rộng lớn;

              Về tổng thể, một lưu vực lũ được chia thành 3 vùng: vùng sinh lũ, vùng ảnh hưởng và vùng có lũ quét. Tác nhân chính gây ra lũ quét là mưa lớn với cường độ cao, thời gian mưa kéo dài liên tục kết hợp với đặc trưng cấu tạo đất đá bở rời, yếu tố địa hình lưu vực có sườn núi dốc, phân cắt mạnh mẽ với nhiều hẻm, vực sâu. Ngoài những yếu tố tự nhiên thì theo các nhà khoa học, một số hoạt động kinh tế của con người ở khu vực miền núi cũng dẫn đến việc gia tăng lũ quét: khai thác làm mất rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản thiếu quy hoạch, xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện, giao thông chưa đánh giá đầy đủ các tác động,...dẫn đến cản trở , thu hẹp dòng chảy của các hệ thống. Do tập quán và điều kiện sản xuất, bà con các dân tộc thường lựa chọn sống gần nguồn nước, ven bờ sông suối, hay trên các sườn núi cao và đó chính là những nơi thường hứng chịu nhiều hơn về tần suất xảy ra lũ quét, sạt lở.

Hình ảnh trường bị tàn phá bởi lũ (nguồn internet)

Nguyên tắc phòng,chống các loại lũ quét

    - Với lũ quét sườn dốc: Quy hoạch đưa dân cư lên cao; Trồng rừng;

    - Với lũ quét nghẽn dòng tự nhiên: Kiểm soát lũ ở thượng lưu; Khơi thông dòng chảy; Chọn giải pháp thiết kế xây dựng công trình chống, chịu lũ;

             - Với lũ quét nghẽn dòng đột biến: Chống tắc nghẽn/Tạo đường thoát lũ mới; Bảo vệ bằng biện pháp công trình đối với các khu vực có thể xảy ra sự cố đột biến khiến dòng chảy bị thu hẹp đột xuất;

             - Với lũ quét vỡ dòng tự nhiên: Không bố trí công trình, dân cư dọc phần thấp các thung lũng có thể xảy ra lũ quét vỡ dòng tự nhiên;

             - Với lũ quét vỡ dòng nhân tạo: Nâng cao chất lượng , độ an toàn của các công trình hồ đập ở thượng lưu;

             - Với lũ bùn đá: Không bố trí công trình, dân cư trong vùng ảnh hưởng của lũ bùn đá; Ở các vùng nguy cơ thấp, có thể sử dụng các biện pháp công trình để chống chịu, giảm nhẹ thiệt hại lũ bùn đá;

             - Với lũ hỗn hợp: Kết hợp hợp lý giữa các biện pháp quy hoạch sử dụng đất trong lưu vực, bố trí dân cư, xây dựng công trình điều tiết lũ, công trình có khả năng chống chịu lũ.

Các biện pháp phòng,chống lũ quét

Các biện pháp công trình có thể bao gồm:

    - Quy hoạch các điểm dân cư, tránh các khu vực có nguy cơ cao về lũ quét

    Trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro về lũ quét, tiến hành, điều chỉnh quy hoạch các điểm dân cư, quy hoạch các điểm dân cư mới, sắp xếp ổn định các khu vực tái định cư, định canh, bố trí/tái bố trí các địa điểm quy hoạch xây dựng các công trình cộng công với trọng tâm lưu ý là công trình trường học, tránh những khu vực có nguy cơ cao về lũ quét; Gia tăng hợp lý mức độ tiêu chuẩn an toàn công trình thông qua giải pháp thiết kế xây dựng và sử dụng vật liệu. Quy hoạch xây dựng là giải pháp/biện pháp mang tính tổng thể với hiệu quả cao và toàn diện.

    - Trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn

    Sự thay đổi các đặc trưng lũ như thời gian lũ, lưu lượng đỉnh lũ phụ thuộc nhiều vào lớp phủ rừng. Trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn có tác dụng duy trì lá chắn thiên nhiên, hạn chế hạn chế khả năng tập trung dòng chảy lũ và các nguyên nhân gây lũ quét.

    - Xây dựng đê, tường chắn lũ quét

    Ở các khu vực có điều kiện xây dựng công trình ngăn lũ quét có thể nghiên cứu xây dựng các tuyến đê hoặc tường chắn lũ quét để giữ dòng lũ chảy trong lòng dẫn, ngăn chặn các tác động của lũ quét đối với khu vực cần bảo vệ.

    - Phân dòng lũ

     Dựa vào địa hình cụ thể có thể nghiên cứu phân dòng lũ nhằm giảm thiểu tác động của lũ quét vào khu vực cần bảo vệ. Phân lũ quét đi lệch sang các sông nhánh bằng cách tạo ra kênh hay đường dẫn lũ, hạn chế khả năng tập trung lũ tàn phá khu vực cần bảo vệ.

    - Xây dựng bổ sung các tràn sự cố ở các hồ đập thượng lưu

    Để đề phòng sự cố ở các hồ đập thượng lưu gây ra lũ quét vỡ dòng nhân tạo có thể xây dựng bổ sung các tràn sự cố cho các hồ này.

    - Mở rộng khẩu độ thoát lũ của hệ thống cầu cống, khơi thông đường thoát lũ, gia cường công trình vùng cửa suối

    Để tránh tình trạng làm cản dòng lũ gây ra lũ quét, cần phải tính toán quy hoạch tiêu lũ của hệ thống cầu cống. Đối với những vùng cần tiêu thoát lượng nước lớn, phải mở rộng thêm khẩu độ các cầu cống. Các đoạn thung lũng bị thắt hẹp phần hạ lưu phải được mở rộng bằng nổ mìn, tạo dòng chảy đủ lớn qua thung lũng. Gia cường công trình vùng cửa suối để chịu được tác động của dòng lũ bùn đá.

    - Chống trượt lở đất đá theo sườn dốc;Kè chống sạt lở dọc lòng suối.

    Gia cố chân sườn dốc bằng tường chắn đất hoặc đóng cọc cừ bê tông; Bạt mái ta luy để giảm độ dốc của sườn dốc; Kè kiên cố chống sạt lở các đoạn dọc lòng suối có cấu tạo địa chất kém ổn định.

    Các biện pháp phi công trình có thể bao gồm:

    - Lập bản đồ những nơi xảy ra lũ quét và những nơi nguy hiểm

    Bản đồ sẽ chỉ cho người dân và các nhà quản lý thấy rõ khu vực chịu tác động của các dạng lũ quét, bản chất của quá trình hình thành và phát triển, cường độ và xác xuất hình thành lũ quét.

 Việc lập bản đồ vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét được kết hợp với các bản đồ theo dõi các loại thiên tai khác tạo ra một bức tranh đầy đủ về vùng bị ảnh hưởng của thiên tai. Đây là biện pháp phi công trình quan trọng nhất để phòng chống và giảm nhẹ thiệt hai do lũ quét và thiên tai nói chung.

Hệ thống bản đồ phân vùng các loại thiên tai cần được thiết lập hoàn chỉnh, chính xác, chi tiết từ cấp quốc gia (theo các vùng, miền) đến cấp cấp tỉnh (và các lưu vực sông lớn), cấp huyện, xã (và các lưu vực sông, suối nhỏ). Trong mấy chục năm qua công việc này đã được nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương nghiên cứu, thực hiện thông qua các dự án, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học và các kết quả đạt được đến nay rất đáng khích lệ (Mới đây nhất, ngày 09 tháng 6 năm 2017, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã tổ chức hội thảo “Xây dựng Chương trình cập nhật phân vùng rủi ro thiên tai, lập bản đồ cảnh báo thiên tai, đặc biệt là các thiên tai liên quan đến bão, nước dâng do bão, lũ, lũ quét, trượt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn”). Hệ thống bản đồ phân vùng các loại thiên tai được lập chính xác, chi tiết và cập nhật sẽ là căn cứ quan trọng trong quá trình xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành kinh tế-xã hội, quy hoạch đô thị và các điểm dân cư, quy hoạch bố trí lại dân cư, sản xuất, quy hoạch giao thông và cơ sở hạ tầng,... xây dựng chương trình, dự án cụ thể phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại.

    - Dự báo và cảnh báo lũ quét

Đối với lũ quét, yếu tố quan trọng là dự báo lượng mưa, sự đột biến thay đổi chế độ dòng chảy trên lưu vực. Với lũ bùn đá cần thêm dự báo trượt lở đất đá và dòng chảy trên lưu vực. Cần thiết lập hệ thống báo động tại chỗ, cắm biển cảnh báo lũ quét.

Ngoài ra, còn những biện pháp phi công trình khác như:  Giáo dục nhận thức cộng đồng và trẻ em về bản chất của lũ quét và phòng tránh lũ quét (cộng đồng và trẻ em miền núi thuộc địa bàn dân trí thấp, hiểu biết hạn chế so với các địa bàn khác); Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; Tiếp tục nghiên cứu toàn diện và sâu hơn về các loại lũ quét,...

An toàn trường học trước các hiểm họa thiên tai- Nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa kinh tế, xã hội và nhân văn sâu sắc của ngành giáo dục nước ta

Cho đến nay, Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật chung về phòng chống thiên tai mà chỉ ban hành các văn bản điều chỉnh một số loại thiên tai lớn mà Việt Nam hay gặp phải (Luật, Pháp lệnh, Nghị định). Việt Nam cũng đã  tham gia kí kết và tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto và Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu, Khung hành động Hyogo về giảm nhẹ thiên tai, Hiệp định ASEAN về quản lí thiên tai và ứng phó khẩn cấp (AADMER) và Hướng dẫn Tuyên truyền trong nước về ứng phó và khắc phục hậu quả ban đầu sau thảm hoạ (Hướng dẫn IDRL). Trong số những điều ước quốc tế này, hiệp định AADMER là điều ước có hiệu lực ràng buộc và trực tiếp nhất đối với lĩnh vực phòng tránh giảm nhẹ thiên tai. Việt Nam còn là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Thông qua việc phê chuẩn, Việt nam cam kết tiến hành các hành động và tạo điều kiện để đảm bảo quyền trẻ em được tôn trọng, bảo vệ và thực hiện, kể cả trong các tình trạng khẩn cấp, trong thảm họa thiên tai.

Nghị định 14/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 27/02/2010  liệt kê 13 loại thiên tai chính ở nước ta, bao gồm: “mưa lớn, áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, lũ quét, ngập lụt, giông, lốc, sét, sạt lở do mưa lũ, nước dâng, động đất, sóng thần”.

Việt Nam là nước chịu tác động và thiệt hại nhiều bởi thiên tai hàng năm.            Hơn 70% dân số được ước tính là đang hứng chịu các rủi ro do nhiều loại hiểm họa thiên tai (theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới). Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, các loại hiểm họa thiên tai có tần xuất xuất cao ở nước ta gồm: Lũ, ngập lụt; Lũ quét; Bão, áp thấp nhiệt đới; Lốc xoáy; Sạt lở/bồi lấp.

Ngày 16/11/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 172/2007/ QĐ-TTg phê duyệt ‘Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020”. Mục tiêu chung của Chiến lược là “Huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Một trong những nội dung liên quan đến nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch hành động của Chương trình được nhấn mạnh là:

    - Rà soát, bổ sung các tiêu chuẩn xây dựng công trình phù hợp với đặc thù thiên tai của từng vùng;

    - Ban hành các quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật xây dựng công trình trong các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai;

Trường học là loại công trình công cộng phổ biến gắn liền với hệ thống các điểm dân cư toàn quốc với quy mô trên 14,5 nghìn trường mầm non và 4,6 triệu học sinh, gần 29 nghìn trường phổ thông các cấp và trên 15,7 triệu học sinh (số liệu đầu năm học 2016-2017). Công trình trường học là loại công trình công cộng có yêu cầu đặc biệt về an toàn trước thiên tai do là nơi tập trung đông người với đối tượng chính lại là trẻ em, chiếm tới trên 21,8% dân số cả nước (20,3 triệu/92,7 triệu). Đây cũng chính là một trong các lý do quan trọng dẫn đến việc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 4068/QĐ-BGDĐT ngày 08/ 09/ 2011“Về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai của ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2020”. Một trong những mục tiêu cụ thể đã được xác định trong Kế hoạch hành động là: Đến năm 2012 hoàn thành việc nghiên cứu và thiết kế mô hình trường/ lớp học phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; đến năm 2015 xây dựng thí điểm mẫu trường/lớp học phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai ở một số khu vực đặc thù; từ 2016 - 2020 tổ chức triển khai áp dụng đại trà mẫu trường/lớp học phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai theo kế hoạch cụ thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thực tế các số liệu thống kê thiệt hại do thiên tai ngày càng gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2016 kết hợp với những diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp đi kèm các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu khiến cho đã đến lúc phải nghiêm túc và gấp rút tập trung thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đã được đề ra trong Kế hoạch hành động của ngành (Năm 2016 được đánh giá là năm có thiệt hại do thiên tai lớn nhất trong hơn 40 năm qua. Theo thống kê sơ bộ của TCTK, thiên tai đã làm 248 người chết và mất tích; 470 người bị thương; gần 4,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 361,7 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 258,3 nghìn ha lúa, 113,2 nghìn ha hoa màu và 49,8 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 52,1 nghìn con gia súc, 1.679,5 nghìn gia cầm và hơn 1 nghìn tấn thủy sản các loại bị chết. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm ước tính gần 18,3 nghìn tỷ đồng. Còn theo số liệu tổng hợp từ các địa phương của BCĐTW về phòng chống thiên tai thì trong năm 2016 thiên tai đã làm 264 người chết và mất tích; 5.431 nhà bị đổ, sập, trôi và 364.997 nhà bị ngập, hư hại, tốc mái, bao gồm nhiều công trình trường học; 828.661ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại. Hàng triệu mét khối đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt lở, bồi lấp; 115 km đê - kè, 938 kênh mương, 122km bờ sông, bờ biển bị sạt lở,…Tổng thiệt hại về kinh tế khoảng 39.726 tỷ đồng, trong đó).

Được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ, Viện nghiên cứu thiết kế trường học (cơ quan chuyên ngành nghiên cứu thiết kế trường học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ và các bộ, ngành hữu quan đang xây dựng Đề án“Nghiên cứu thiết kế mẫu và xây dựng thí điểm trường, lớp học an toàn, chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai” nhằm mục đích từng bước hình thành và nhân rộng mô hình trường, lớp học có khả năng chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và sự gia tăng tần suất, mức độ khắc nghiệt của thiên tai ở nước ta (Viện cũng đã có những nghiên cứu thiết kế mẫu công trình trường học cho vùng ngập lụt đồng bằng sông Cửu Long). Mục tiêu của Đề án là Nghiên cứu thiết kế mẫu và xây dựng thí điểm mẫu trường/lớp học có khả năng  chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai tại các vùng đặc thù thiên tai với các nội dung nghiên cứu và hoạt động triển khai cụ thể sau:

             - Nghiên cứu về phân vùng thiên tai và đặc trưng thiên tai của các vùng;

             - Nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện hình thành và đặc tính của các loại thiên tai có tần xuất xuất hiện cao ở nước ta;

             - Nghiên cứu cơ chế tác động của từng loại thiên tai đối với công trình trường học và các giải pháp phù hợp về quy hoạch, thiết kế xây dựng công trình/bộ phận công trình, thiết kế hệ thống kỹ thuật công trình, sử dụng vật liệu cho công trình/bộ phận công trình và kỹ thuật thi công xây dựng nhằm hạn chế rủi ro thiên tai, bảo đảm khả năng chống chịu và giảm thiểu tác động của loại thiên tai đó đối với công trình trường học;

             - Xác lập quan điểm tiếp cận tổng hợp trong thiết kế mẫu công trình trường học có khả năng chống chịu, giảm nhẹ tác động thiên tai theo các vùng  (Quan điểm tiếp cận tổng hợp trong thiết kế mẫu công trình trường học  chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai nhìn nhận khả năng tìm kiếm giải pháp hài hòa, không xung đột, kinh tế và phù hợp cho công trình, đáp ứng yêu cầu hạn chế rủi ro, chống chịu và giảm thiểu tác động đối với công trình trước loại thiên tai chính cũng như các loại thiên tai khác có thể xuất hiện ở mỗi vùng theo phân vùng hiểm họa thiên tai);

              - Hướng dẫn lựa chọn địa điểm khu đất xây dựng , tổ chức quy hoạch tổng mặt bằng , thiết kế mẫu công trình/bộ phận công trình và hệ thống kỹ thuật công trình có khả năng chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống và giảm nhẹ tác động thiên tai đối với công trình trường học ở các vùng;

              - Thí điểm xây dựng theo các mẫu công trình trường học an toàn, chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai tại các vùng;

             - Hoàn thiện các mẫu thiết kế sau xây dựng thí điểm để triển khai áp dụng

đại trà trong đầu tư cải tạo, xây dựng các công trình trường học;

              - Biên soạn và phát hành Sổ tay “Hướng dẫn thiết kế, xây dựng trường học an toàn, chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai”, phục vụ cho công tác đầu tư cải tạo, nâng cấp xây dựng, xây dựng mới công trình trường học toàn ngành;

              - Dự thảo Thông tư “Quy định Trường học An toàn, chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai”.

 

Trường học An toàn trước thiên tai là môi trường giáo dục có đủ điều kiện để đảm bảo an toàn cho học sinh (và những người đang làm việc trong trường), đảm bảo an toàn đối với cơ sở vật chất phục vụ dạy và học trong mọi điều kiện của thiên tai. Đó là trường học có vị trí quy hoạch xây dựng an toàn, được thiết kế xây dựng theo quy chuẩn phù hợp, có khả năng giảm tối đa các rủi ro thiên tai liên quan đến cơ sở vật chất, có các thiết bị và phương tiện giúp trường ứng phó được với nhiều loại thiên tai. Vấn đề xây dựng Trường học An toàn, chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai từ vài chục năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế và các nước quan tâm, nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. UNESCO, NHTG, UNDP, Văn phòng Liên hiệp quốc về Giảm thiểu rủi ro thiên tai (UNISDR), Save the Children, Cơ quan quản lý khẩn cấp liên bang của Hoa Kỳ (FEMA),... phát hành khá nhiều tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn xây dựng trường học an toàn, chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai. “Trường học An toàn” hay “Trường học An toàn hơn” trước hiểm họa thiên tai đã trở thành xu thế hành động được nhiều nước trên thế giới hưởng ứng tích cực (Mỹ, các nước EU, Úc, Nhật bản, Ấn độ, Indonesia, Myanmar, Sri Lanka, Bangladesh,...). Khá nhiều nước đã ban hành tiêu chuẩn/hướng dẫn thiết kế xây dựng công trình chống chịu các loại thiên tai. Trong khu vực, năm 2010 Bộ Giáo dục Philippines đã ban hành “Cẩm nang cơ sở vật chất kỹ thuật trường học” (Educational Facilities Manual) có lồng ghép nội dung : “Giảm thiểu rủi ro thiên tai trong xây dựng trường học” (Integrating Disaster Risk Reduction in School Construction). Nhiều nhà khoa học nước ngoài cũng đã có những công trình nghiên cứu và ấn phẩm giá trị liên quan đến xây dựng công trình chống chịu, giảm nhẹ tác động thiên tai, trong đó có cả ấn phẩm đã được phát hành, tái bản nhiều lần bằng tiếng Việt như: Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng nhà vùng bão lụt (The A.B.C. of Cyclone Rehabilitation, K.J. Macks).

Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo Phùng Xuân Nhạ trực tiếp khảo sát, chỉ đạo khắc phục tình trạng lũ quét tại Mù Cang Chải ngày 18/8/2017

Với một nước chịu nhiều tác động thiên tai như Việt Nam, rõ ràng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giải pháp thiết kế xây dựng công trình chống chịu và giảm nhẹ tác động thiên tai, đặc biệt giải pháp công trình trường học an toàn trước các hiểm họa thiên tai là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội và nhân văn, trong bối cảnh NSNN hạn hẹp nhưng vẫn phải huy động ở mức độ cao nguồn tài lực (bao gồm cả nguồn trái phiếu Chính phủ, vốn vay ODA) để đầu tư xây dựng CSVC cho hệ thống trường học-Môi trường học tập của học sinh và cũng chính là đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi các rủi ro thiên tai. NHTG đã chứng minh cứ mỗi đô la đầu tư vào giảm nhẹ rủi ro sẽ giúp tiết kiệm được bảy đô la dùng cho công tác tái thiết phục hối. Cuối cùng, kết quả của các nghiên cứu cần được chuyển hóa để bổ sung, cập nhật kịp thời vào hệ thống văn bản pháp quy về xây dựng nói chung, xây dựng công trình trường học nói riêng ở nước ta./.

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

KTS Lê Thái Tuyên, Trưởng Nhóm Nghiên cứu CSVC

Viện NCTK trường học (Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt ‘Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020”.

2. Quyết định số 4068/QĐ-BGDĐT ngày 08/ 09/ 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo “Về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai của ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2020”.

3. Đề tài cấp Nhà nước “ Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các loại hình tai biến địa chất trên lãnh thổ Việt Nam và các giải pháp phòng chống” (Viện Địa chất, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), 2005.

4. Tài liệu kỹ thuật quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và PTNN- UNDP, 2012.

5. Sổ tay phòng chống lụt bão, Tài liệu trên mạng Internet, tải từ Cổng Thông tin biến đổi khí hậu tỉnh Nam Định.

6. Bộ tài liệu tham khảo về ứng phó biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai được phê duyệt theo Quyết định số 1612/QĐ-BGDĐT ngày 27/04/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

7. Hướng dẫn phân tích tình hình, lập kế hoạch ứng phó và phòng ngừa thảm họa lấy trẻ em làm trọng tâm, BCĐ phòng chống lụt bão TW- Ủy ban DS,GĐ và TE- Hội chữ thập Đỏ VN-Hiệp hội chữ thập Đỏ và Trăng Lưỡi liềm Đỏ quốc tế.

8. Hướng dẫn xây dựng Trường học An toàn, Live&Learn, Plan Vietnam, Hội Chữ thập Đỏ Đức (GRC), Hội Chữ thập Đỏ VN (VNRC).

9. Assessing School Safety from Disasters, UNISDR, 2012.

10. Disaster Prevention for School, UNISDR, 2008.

11. Disaster and Emergency Preparedness: Guidance for Schools, IFC (WB Groups), 2010

12. Guidance Notes on Safer School Construction, WB, 2009.

13. School Buildings and Natural Disasters, UNESCO, 1982.

14. Design Guide for Improving School Safety in Earthquakes, Floods and High Winds, FEMA (USA), 2004.

 

Tin liên quan

Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học tổ chức Chúc mừng ngày Phụ nữ Việt nam 20/10

Trung Nguyễn - 20/10/2021

Thiết thực kỷ niệm ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, được sự đồng ý của Lãnh đạo Viện, ngày hôm nay Công đoàn Viện NCTK Trường học đã tổ chức buổi liên hoan giao lưu toàn thể cán bộ, người lao động trong toàn cơ quan, đặc biệt ch&uacut...

Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học tổ chức chào mừng 43 năm ngày thành lập Viện

Trung Nguyễn - 14/10/2021

      Ngày 12/10 vừa qua, Viện nghiên cứu Thiết kế Trường học đã tổ chức buổi kỉ niệm mừng 43 năm ngày thành lập Viện (12/10/1978 – 12/10/2021) tại trụ sở 12-14 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tập thể cán bộ Vi...

Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học tham dự Hội nghị trực tuyến về Nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025

Trung Nguyễn - 01/07/2021

Trong bối cảnh dịch Covid diễn biến nghiêm trọng, các cuộc Hội nghị đã chuyển sang hình thức trực tuyến. Sáng 30/6, Đảng ủy Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một điểm cầu kết nối trực tuyến với điểm cầu Văn Phòng Chín...

TS Lê Hồng Sơn - Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM: Thời cơ đặc biệt để phát triển giáo dục thông minh

Phạm Quang Anh - 19/05/2021

Báo GD&TĐ: Kể từ ngày đất nước thống nhất, TPHCM đã bứt phá, trở thành lá cờ đầu trong đổi mới, sáng tạo mang lại hiệu quả cao phục vụ đời sống của người dân. Tiếp nối thành công cũng như hòa nhập xu thế toàn cầu, TP hướn...

Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng làm việc với Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học.

Phạm Quang Anh - 07/05/2021

     Ngày 22/4/2021, Thứ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng cùng đoàn cán bộ đại diện các Vụ, Cục trong Bộ Giáo dục đã đến làm việc tại Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học. Ban lãnh đạo Viện NC...

Thông báo tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ năm 2022

Trung Nguyễn - 06/05/2021

Căn cứ Quyết định số 1249/QĐ-BGDĐT ngày 09/04/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Danh mục đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ đặt hàng giao tuyển chọn thực hiện từ năm 2022. Thực hiện hướng dẫn tại Công văn số: 1401/BGDĐT-KHC...

Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học chúc mừng ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và hưởng ứng sự kiện Tuần lễ áo dài 2021.

Trung Nguyễn - 11/03/2021

          Hướng tới kỷ niệm 111 năm ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3/1910 – 8/3/2021) và hưởng ứng sự kiện “Tuẫn lễ Áo dài” do Trung ương hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động, Công đoàn Viện Nghiên cứu Thiết kế T...

TIN VIDEO

PHƯƠNG ÁN DỰ THI NHÀ ĐIỀU HÀNH ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

Trung Nguyễn - 15/06/2020

  Chủ nhiệm thiết kế : KTS.Hoàng Hải Sơn Tham gia: KTS.Nguyễn Đức Trung, KTS.Nguyễn Văn Tuấn, KTS.Đoàn Thu Hồng, KTS.Nguyễn Minh Đức, KS.Ngô Đức Hùng   Nhiệm vụ thiết kế : - Tên công trình : Nhà điều hành trường ĐH T...

EDU TALK - QUY HOẠCH LẠI MẠNG LƯỚI TRƯỜNG LỚP

Phạm Quang Anh - 14/06/2018

Viện NCTK Trường học xin giới thiệu quý độc giả Video Edu talk : Quy hoạch lại mạng lưới trường lớp do VTV thực hiện. Xem video tại đây. Phó Viện trưởng Viện NCTK Trường học Hoàng Lưu Vinh trong trương trình tọa đàm.